Các thuốc ức chế miễn dịch thường dùng và cơ chế tác dụng của chúng

Đáp ứng miễn dịch có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ khỏi sự xâm nhập của các yếu tố gây bệnh. Tuy nhiên trong một số trường hợp hoạt động miễn dịch của cơ thể lại trở thành yếu tố không mong muốn và cần thiết phải ngừng hoạt động này. Thuốc có tác dụng ngăn chặn hoạt động của hệ thống miễn dịch được gọi là thuốc ức chế miễn dịch.

Thuốc ức chế miễn dịch là gì?

Thuốc ức chế miễn dịch là những thuốc có tác dụng ức chế hoặc ngăn chặn hoạt động của hệ thống miễn dịch trong cơ thể. Các thuốc này thường được sử dụng trong các liệu pháp ức chế miễn dịch nhằm:

Chống thải ghép trong phẫu thuật ghép các mô và cơ quan

Các phẫu thuật cấy ghép đều phải sử dụng thuốc ức chế miễn dịch do hệ thống miễn dịch của cơ thể xem các bộ phận cấy ghép là yếu tố lạ và sẽ tấn công các cơ quan được cấy ghép này làm cho các bộ phận cấy ghép không dung nạp cơ thể được. Thuốc ức chế miễn dịch làm giảm hoạt động của hệ thống miễn dịch và giảm các phản ứng của cơ thể đối với các cơ quan cấy ghép do đó các cơ quan cấy ghép không bị cơ thể đào thải.

thuoc-uc-che-mien-dich
Thuốc ức chế miễn dịch được sử dụng chống thải ghép các mô và cơ quan

Điều trị các bệnh tự miễn hoặc bệnh nghi ngờ có nguồn gốc tự miễn

Bệnh tự miễn là các bệnh xảy ra do hệ thống miễn dịch bị rối loạn mất khả năng phân biệt các kháng nguyên ngoại lai và các tế bào của cơ thể hay tự kháng nguyên.

Các thuốc ức chế miễn dịch có hiệu quả tốt với một số bệnh tự miễn dịch như lupus ban đỏ hệ thống, viêm đa khớp dạng thấp, viêm gan tự miễn, bệnh vẩy nến, đa xơ cứng, nhược cơ.

Các thuốc ức chế miễn dịch làm giảm hoạt động của hệ thống miễn dịch, ngăn chặn sự tấn công của hệ miễn dịch lên chính các mô tế bào của cơ thể.

Điều trị một số bệnh viêm không tự miễn khác

Thuốc ức chế miễn dịch ngoài được sử dụng chống thải ghép và điều trị các bệnh tự miễn còn được sử dụng để điều trị một số bệnh viêm nhưng không tự miễn khác như viêm cột sống dính khớp, hen phế quản.

Các thuốc miễn dịch thường sử dụng và cơ chế tác dụng của chúng

Thuốc ức chế miễn dịch thường được phân loại thành các nhóm sau: các corticoid, các thuốc độc tế bào, các chất chống chuyển hóa, các cyclosporine, các loại thuốc khác như tacrolimus …. Mỗi nhóm có cơ chế tác dụng khác nhau, tùy thuộc vào tình trạng cấy ghép gì, bệnh tự miễn gì mà các thuốc thích hợp được sử dụng. Chúng ta lần lượt tìm hiểu cơ chế tác dụng của từng loại thuốc.

Các thuốc corticosteroid

Các thuốc corticosteroid thường dùng như prednisone, budesonide, prednison

Các thuốc corticosteroid có tác dụng chống viêm và có tác dụng trực tiếp trên các tế bào có chức năng miễn dịch. Các thuốc này ức chế đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mạnh hơn đáp ứng miễn dịch kháng thể. Corticoid sử dụng trong chống thải ghép thường được dùng liều cao ở thời điểm ghép sau đó giảm dần đến liều duy trì kéo dài suốt đời. Trong quá trình duy trì nếu thải ghép xuất hiện thì liều cao lại được bắt đầu lại.

Các thuốc độc tế bào

Các thuốc độc tế bào hay dùng là azathioprin và cyclophosphamide.

Azathioprine là một thuốc đặc hiệu có tác dụng tiêu diệt nhanh các tế bào sao chép đồng thời ức chế sự tăng sinh của các tế bào lympho T, lympho B và cả các đại thực bào. Azathioprine thường được bắt đầu sử dụng vào thời điểm ghép, hầu hết các bệnh nhân đều dung nạp với thuốc kéo dài.

Cyclophosphamid tiêu diệt tế bào bằng liên kết chéo AND và có thể ức chế tính miễn dịch của cả tế bào lympho T và B cũng như hiện tượng viêm.

Cả hai thuốc này cũng ức chế một cách hiệu quả sự tạo kháng thể trong huyết thanh.

Các chất chống chuyển hóa

Chất chống chuyển hóa thường sử dụng là methotrexat, thuốc này có tác dụng ức chế acid folic, ức chế nhanh các tế bào phân chia pha S và ngăn chặn cả miễn dịch qua trung gian tế  bào lẫn miễn dịch qua trung gian thể dịch cũng như ức chế các quá trình viêm.

Thuốc ức chế calcineurin

Các thuốc ức chế calcineurin thường được sử dụng là Cyclosporin và Tacrolimus.

Cyclosporin được chiết xuất từ một loại nấm, được sử dụng như một thuốc ức chế miễn dịch chống thải ghép trong phẫu thuật ghép các cơ quan, được sử dụng phổ biến nhất trong ghép tim và phổi. Thuốc này có thể sử dụng đơn độc nhưng thường được sử dụng phối hợp các thuốc khác nhằm giảm liều, ít độc hơn. Liều ban đầu được giảm xuống liều duy trì ngay sau khi ghép.

Tacrolimus cũng là một thuốc được dùng chống thải ghép, thuốc này có đặc tính chống tế bào T. Tacrolimus ức chế IL-2, ức chế sự sản xuất inteferon γ và sự hoạt hóa tế bào T. Tacrolimus được sử dụng trong ghép tim, gan, thận, tụy. Thuốc được bắt đầu sử dụng vào thời điểm ghép hoặc vài ngày sau ghép. Đây là thuốc được sử dụng khi cyclosporine không hiệu quả hoặc có tác dụng không mong muốn không dung nạp được.

Các kháng thể đơn dòng và đa dòng

Một số kháng thể như OKT3; ATG hay kháng thể đơn dòng chống CD25 được sử dụng để điều trị khối u chắc, u hệ tạo máu và các rối loạn viêm.

Trên đây là một số thông tin về các thuốc ức chế miễn dịch. Các thuốc ức chế miễn dịch chỉ được sử dụng theo chỉ định của bác sĩ. Có rất nhiều tác dụng không mong muốn có thể gặp phải khi sử dụng thuốc ức chế miễn dịch do đó cần tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định và hướng dẫn sử dụng của bác sĩ.

(1) Xem thêm tại: https://www.healthline.com/health/immunosuppressant-drugs

(2) Xem thêm tại: https://www.kidney.org/atoz/content/immuno

(3) Tìm hiểu thêm tại: https://www.medicinenet.com/what_are_immunosuppressive_drugs/article.htm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *